Thứ Hai, 22 tháng 7, 2013

THƠ : DỐC ĐỜI

THƠ

DỐC ĐỜI 


 photo HT_EMTk6_zps764bc20d.jpg 

HUY THANH 

Con dốc 
Trời xanh
Cỏ mọc
Chông chênh

Bước ta
Mờ ảo
Như người
Hát dạo

Những phím
Tơ chùng
Không lời
Thủy chung

Dốc đời
Ta trượt
Ngã dài
Sóng sượt

Nước mắt
Mặn môi
Những lời
Sám hối

Vùi trong
Tội lỗi
Ai khóc
Một mình

Ta về
Bỗng nhớ
Lời thề
Dang dở

Lời hát
Xanh xao
Tiếng nhạc
Bạc đầu

Rượu đời
Chưa cạn
Vơi đầy
Tình bạn

Em về
Đâu đó
Hồn nương
Ngọn cỏ

Đốc đời
Bỏ dở
Vực sâu
Trăn trở

Ta làm
Hành khất
Xin lời
Chân thật

Chợt thấy
Bâng khuâng
Nhớ mắt
Người dưng 


HUY THANH 

Thứ Ba, 16 tháng 7, 2013

THƠ : BÀI NHAN DUNG THỨ NHẤT

THƠ


BÀI NHAN DUNG THỨ NHẤT 

 photo HT-EMTk4_zpsf2e9cf30.jpg

HUY THANH

1-
Đi trên phận đá gập ghềnh
Gót chân man dại, bồng bềnh chiêm bao
Đường tình bước thấp bước cao
Một thân, một bóng, lao đao ngậm ngùi
Buồn thì đốt cạn nỗi vui
Nghe môi trổ nhánh những lời lâm chung
2-
Vội tìm mấy nét nhan dung
Gót chân hoài niệm nát vùng cỏ thơm
Một mình đánh dấu hoàng hôn
Đếm ngày rơi rụng nát hồn diễm xưa
Em về chiều nắng, hay mưa ?
Nửa đêm trăng úa ngày chưa muốn về ?
3-
Một câu vọng cổ tình quê
Ta cao giọng hát bốn bề gió trăng
Em tìm nhặt chút dung nhan
Nghe quen sỏi đá bẽ bàng dấu xưa
Bước chân thềm lá rêu thưa
Hồn khơi sóng vỗ ,chiều mưa buốt về
4-
Mịt mù mấy nẻo sông mê
Đi trong hoài niệm , bốn bề sương giăng
Nghe câu dạ cổ hoài lang
Buồn trong ký ức lỡ làng phúc âm
Thì thôi trí nhớ yên nằm
Chờ qua một kiếp trăm năm  , tái hồi .

HUY THANH

Thứ Sáu, 12 tháng 7, 2013

THAM LUẬN : NGHIÊN CỨU MỘT HỢP ĐỒNG XUẤT KHẨU

THAM LUẬN

NGHIÊN CỨU 


MỘT HỢP ĐỒNG XUẤT KHẨU 

(  Export Contract )


HT  photo HT-EMT1-12_zps0d53b02d.jpg


LỜI BẠT :

Trong giao dịch Kinh Tế quốc tế ,việc MUA ( nhập khẩu ) và BÁN ( xuất khẩu ) giữa các quốc gia có nhiều điểm khác biệt  hơn buôn bán nội địa .Những điểm khác biệt đó là do ngôn ngữ các bên chưa nhất quán hiểu một cách suông sẻ . Luật pháp kinh tế mỗi bên mỗi khác nên sẽ gặp rất nhiều trở ngại sau nầy nếu có tranh chấp trước các cơ quan tài phán KinhTế Quốc Tế . Do đó, để thuận lợi cho việc mua bán giữa các nước , ngưòi ta dùng một cơ sở pháp lý để ràng buộc những điều kiện hợp thương giữa các bên là ký kết Hợp Đồng Kinh Tế Xuất Nhập Khẩu
Hợp đồng Kinh Tế X N K đưọc coi như là một văn bản thoả thuận của các bên căn cứ vào luật pháp kinh doanh của những quốc gia liên quan phù hợp những tiêu chí kinh tế quốc tế được tất cả các quốc gia trên thế giới công nhận và chấp hành .
Trước khi thực hiên việc mua bán , hai bên thường hiệp thương để thảo luận Hợp Đồng , những chuyên viên về Kinh Té của hai bện sẽ thảo luận cách viết Hợp Đồng cho rõ ràng , đầy đủ những nội dung ,chi tiết, và cả những dự đoán may rủi cho những thời kỳ thực hiện trước, trong, và sau khi thực hiện hợp đống .Hợp đồng thường được viết bằng tiếng Anh, cũng có khi các bên thỏa thuận viết bằng tiếng khác nhưng khi có tranh chấp trước cơ quan tài phán Quốc Tế thì Hợp Đồng viết bằng tiếng Anh là cơ sở để giải thích trong việc tranh chấp .

Trong Entry nầy , tôi chỉ chọn một khía cạnh nhỏ được nhiều người quan tâm, đó là loại Hợp Đồng Xuất Khẩu  ( Export  Contract ), và xuất khẩu gạo, một thế mạnh cuả ngành Nông Nghiệp của nước ta ngày nay.
Bài Entry nầy ,chỉ nói lên một mô hình rất nhỏ của Hợp Đồng Kinh Tế , nó chỉ có tánh cách tượng trưng cho chủ đề viết còn ở dạng thô ,  nó không phải là một bài viết hoàn thiện ,  mẫu mực  mà chỉ căn cứ vào kinh nghiệm của tôi trên thương trường quốc tế nhiều năm qua  nên chắc bài viết cũng còn rát nhiều thiếu sót .  Mong quý vị tham khảo và góp ý kiến .

1- MỘT HỢP ĐỒNG XUẤT KHẨU TIÊU BIỂU :   

CONTRACT   No :
( HỢP ĐỒNG   Số : ) 
Date:
( Ngày ..)
BETWEEN . ( Giữa .... )..

Address..( Địa chỉ  )..
Tel.... Telex.... Fax....
( Điện thoại ) (Tê lec ) ( Phắc ) ..
Represented by Mr :.....
Hereinafter called  THE BUYER .
(Đại diện là ông......
Sau đây được goi là  BÊN MUA )

And :....
(và )

Address :(Đia Chỉ ).....
Tel :...Telex .. Fax
(Điện thoại ) ( Tê lec ) ( Phắc )
Represented by Mr
Hereinafter called  THE SELLER
(Đại diện là ông :..
Sau đây được gọi là  BÊN BÁN )

The above parties hereby agreed that Seller shall sell and Buyer shall buy the following commodity with the follwing terms and conditions
(Hai bên mua và bán trên đây dồng ý mua và bán những loại hàng hoá sau đây :)

I-ARTICLE 1- 
COMMODITY : Vietnammese Rice Type Peart
(ĐIỀU 1 - TÊN  MẶT HÀNG ) : Gạo Việt Nam đã xay xát )

II-ARTICLE 2-SPECIFICATION :  
(ĐIỀU 2-  QUY CÁCH PHẨM CHẤT HÀNG HOÁ  )
Moisture  ...%  max
 (  Độ ẩm tối đa % )
Foreign ...%max
( Tạp chất tối đa % )
Broken ...% max
( Hạt tấm tối đa % )
Whole grain   %
( Hạt nguyên ít nhất 40% )
Red kernel ...% max
( Hạt đỏ tối đa % )
Immature kernel ....% max
( Hạt non tối đa  % )

III-ARTICLE 3-  :  QUANTITY : 30.000 MT ( +, - 10% more or less at Buyer option )   
( ĐIỀU 3-   SỐ LƯỢNG ): 30.000 Tấn (+, - 10% tuỳ ý người mua chọn lựa .)

I V-ARTICLE  4-  : PACKING :     In new single jute bags of 50 kgs net each
( ĐIỀU 4 -BAO BÌ ĐÓNG GÓI ) :  Đóng gói bằng bao đay đơn, mỗi mỗi bao 50 kg ở trọng lượng tịnh, )

V-ARTICLE 5-  : SHIPMENT :15.000 MT in ..... and 10.000 MT in ....
(ĐIỀU 5-GIAO HÀNG) : 15.000 tấn giao trong ..và 10.000 tấn giao trong ... )

V I-ARTICLE  6-  : PRICE : USD ....../ MT   .FOB Saigon Port
(ĐIỀU 6  GIÁ CẢ ) : Đô La Mỹ ...../ Tấn , giá FOB tại cảng Saigon

V I I -ARTICLE  7-  : PAYMENT :
 By Irrevocable letter of Credit at sight L/C in favor of Vietcombank requiring the following documents for negotiation
( ĐIỀU 7 -THANH TOÁN )
Thanh toán bởi Thư Tín Dụng trả ngay không hủy ngang , người mua mở một Thư Tín Dụng vào tài khoản của Ngân Hàng
Vietcombank và yêu cầu được cung cấp những chứng từ sau :
-Full set of commercial incoice
 ( Toàn bộ những hoá đơn thương mại )
-Full set Clear on Board Bill of Lading
 ( Toàn bộ vận đơn hàng đã làm sạch được chất lên tầu )
-Certificate of weight and quality issued by independent surveyor
 -( Giấy chứng nhận trọng lượng và chất lượng do người giám sát độc lập phát hành )
-Certificate of origin
( Giấy chứng nhận xuất xứ )
-Phytosanitary certificate
 ( Giấy chứng nhận vệ sinh thực vật )
-Fummigation certificate
( Giấy chứng nhận đã khử trùng )

V I I I -ARTICLE  8-  : PRE -SHIPMENT SURVEY :
Buyer shall have right to pre-shipment survery of cargo
(ĐIỀU  8 - KIỂM ĐỊNH TRƯỚC KHI GIAO HÀNG) :
Người mua có quyền kiểm định hàng hoá trước khi giao hàng )

V I V -ARTICLE  9-  : INSURANCE : 
To be converred by the Buyer
(ĐIỀU 9   ( BẢO HIỂM ):
(Người mua chịu )

X-ARTICLE -10-  : ARBITRATION :
Any disputer , controversy or claim arising out of or relating to this cotract or breach therefore , wich can not amicably be settled by the parties hereto , shall be finally setteld by Legal Solutionin in Singapore

ĐIỀU 10 -  (TRỌNG TÀI) :
Những tranh cãi , bất hoà hay khiếu nại nào phát sinh từ Hợp Đồng nầy , hay bị vi phạm ma hai bên mua bán không hoà giải , thương lượng được sau cùng sẽ được đưa ra tại Toà trọng tài Legal Solution ( Trọng tài pháp lý ) tại Singapore . )

X I - ARTICLE 11- : LOADING TERM
ĐIỀU 11 ( - ĐIỀU KIỆN GIAO HÀNG ) 

1- At the load port, the cargo is to be loaded at the rate of 1000 metric tons ( PWWDSHEXUU) per weather working days of 24 consecutive hours, Suday and
holiday excepted unless used.  If the   "Notice of R eadiness  " is presented before 12 hrs noon laytime to commence at 13 hrs the same day , If the "Notice of Readiness"  is given after 12 hrs noon but before the close of office ( 17:00 hours ) the laytime to commence from 8:00 AM on the next working day Dunnage to be for Buyer Shipowner's account
(1-Tại cảng giao hàng , hàng hóa sẽ được xếp lên tầu theo tỉ lệ 1.000 tấn trong một ngày làm việc trong thời tiết thích hợp của 24 giờ liên tục , trừ ngày chủ nhật và ngày nghỉ nếu những ngày nghỉ nầy không được lên kế hoạch bốc dỡ trước đó .
 Nếu thông báo  "tầu sẵn sàng đến trước 12 giờ trưa " thì thới gian bốc xếp hàng là lúc 13 giờ trong ngày . Nếu thông báo" tàu sẵn sàng đến sau 12 giờ trưa "nhưng trước khi hết giờ làm việc trong ngày là 17 giờ thì thời gian bốc hàng sẽ là đầu giờ ngaỳ làm việc hôm sau lúc 8 giờ sáng .
Những vật tư dùng chèn, lót, che đậy hàng hoá sẽ do người mua hoặc chủ tầu chịụ phí tổn )

2- Shore tally at the Seller's account an on board vessel tally at Buyer / Shipowner's account
(2-Việc kiểm tra các kiện hàng chưa bốc dỡ còn trên bờ sẽ do người bán chịu chi phí , khi hàng đã bốc lên tầu , việc kiểm tra trên sán tầu do người mua hay chủ tầu chịu tổn phí )

3--At loard port , tax for cargo is to Seller's account
(3- Những thuế phát sinh tại cảng giao hàng đi do người bán chịu )

4-Damurage Despatch as per Charter party
(4- Việc thưởng hay phạt theo thời gian bốc xếp căn cứ vào Hợp Đồng thuê tầu thực hiện)

5- All other terms as per Gencon Charter party
(5- Tất cả những điều khoản khác sẽ căn cứ theo Hợp Đồng thuê tàu thực hiện)

X I I -ARTICLE 12- : APPLICABLE :
This Contract shall be governed by and construed according to the laws of The Republic of Singapore

( ĐIỀU 12 - ĐIỀU LUẬT ÁP DỤNG :
Hợp Đồng nầy sẽ được áp dụng theo luật pháp của nước Cộng Hoà Singapore . )

X I I I -ARTICLE 13- FORCE MAJEURE :
The Force Majeure ( Exemption ) clause of The International Chamber of Commerce ( I CC Publication No 412 ) is hereby incorporated in this contract

(ĐIỀU 13- ĐIỀU KHOẢN BẤT KHẢ KHÁNG :
Điều khỏan bất khà kháng trong Hợp Đồng nầy được áp dụng trong điều 1 của ấn bản số 412 do Phòng Thương Mại Quốc Tế phát hành )

X I V -ARTICLE 14
- SUNVEY
:
The supervision and survey of the Vietnammese White Rice at mills stores quality , weight , quantity , number of bags ,condition of boxes and paccking will be done by Vinacontrol in Vietnam , the cost thereof being to ..'s account

(ĐIỀU 14- ĐIỀU KHỎAN KIỂM ĐỊNH
:
Việc kiểm định tại kho hay nhà máy về chất lượng , trọng lượng , số bao , bao bì và hộp chứa của hàng hoá gạo nầy của Việt Nam sẽ do Vinacontrol tại Việt Nam đảm nhận , chi phí kiểm định nầy do bên Bán chịu .)

X V -ARTICLE 15- OTHERS :
The Trade Terms used heeein shall be inpreted in accorance 1990 including its amendments . This sales contract is in Hồ chí Minh city ...in 04 ( four ) English originals , 02 (two ) for each side

ĐIỀU 15 - :NHỮNG ĐIỀU KHOẢN KHÁC  :
Tất cả những từ thương mại sử dụng trong Hợp Đồng nầy được diễn giải theo ấn bản 1990 và những phụ lục của nó . Hợp Đồng nầy được làm tại TP HCM .. được lấp thành 4 ( bốn ) bản gốc chính bằng tiếng Anh ,mỗi bên giữ 02 ( hai ) bản .

FOR AND ON BEHALF OF THE  (  BUYER ,  SELLER  )
 ( ĐẠI DIỆN CỦA  BÊN   ( MUA    ,   BÁN  ) 
KÝ TÊN

2-PHÂN TÍCH VÀ GIẢI THÍCH NHỮNG THUẬT NGỮ THƯƠNG MẠI TRONG MỘT SỐ ĐIỀU KHỎAN CỦA HỢP ĐỒNG :

ĐIỀU 1 + 2+ 3 :

Về tên gọi hàng hoá, ( Điều 1 ) cần phải ghi tên rõ ràng ,đầy đủ chứ không được ghi chung chung như là Gạo, vì gạo có nhiều loại, nhiều tên, nhiều phẩm chất khác nhau như độ ẩm, độ tấm , tạp chất v..v.., gạo đã xay xát hay chưa. Mỗi công đoạn biến chế một sản phẩm từ lúc còn là hạt luá cho đến khi thành gạo đều tốn kém chi phí nên người bán phải tính vào giá thành sản phẩm cho đủ ,và người mua chỉ làm những công đoạn còn lại để thành lương thực. Nếu không người bán sẽ giao gạo xấu , sơ chế ,và người mua phải làm lại từ đầu sinh ra đội giá thành lên cao khi bán ra sẽ bị lỗ . Cho nên trong Hợp Đồng

( Điều 2 ) phải ghi rõ đến từng chi tiết của hạt gạo để hai bên không có những tranh chấp về chất lượng sau nầy . Mặt khác , số lượng của hàng hoá mua và bán phải ghi rõ cụ thể trong Hợp Đồng
( Điều 3 ) là bao nhiêu, giao trong thời hạn nào, vì hai bên đã có Kế Họach kinh doanh , tiêu thụ của mình trong thời gian ước tính . Thí dụ bên mua có thể có Hợp Đồng bán lại số gạo mua cho một nước thứ ba trong thời gian nhất định , nếu bên bán không cung cấp đủ hay quá thời hạn , bên Mua sẽ vỡ Hợp Đồng bán lại sản phẩm của mình và sẽ bị đền bù Hợp Đồng cho nước thứ ba .

ĐIỀU 4 + 5 + 6 :

Về bao bì đóng gói ( Điều 4 ) ,theo thông lệ mua bán quốc tế , gao xuất khẩu phải đựng bằng bao đay còn mới , để tránh ẩm mốc trong quá trình vận chuyển bằng tầu trên biển vốn có nhiều sóng gió , mưa nắng ảnh huởng đến chất lượng của gạo . Gạo không được ngộp quá , phải có không khí thông thoáng bên trong bao cho hạt gạo không ngộp, dễ biến chất vì các vi sinh vật luôn sinh sôi nẩy nở trong gạo là ẩm mốc . Trọng lượng 50 kg một bao là người ta đã dự trù những bến cảng không có cần cẩu hay những loại xe cơ giới chuyên môn bốc vác gạo , mà phải dùng bằng phương pháp thủ công sức người. Một người sức khỏe trung bình có thể vác một bao gạo 50 kg từ tầu xuống bến bãi mà không bi kiệt sức nửa chừng .

Trong điều ( 5 ) việc quy định số lượng hàng giao trong một tháng chủ yếu la ràng buộc bên bán phải có trách nhiệm giao hàng nhanh , đúng tiến độ .Trong điều ( 6 ) về đơn vị tiền thanh toán , thông thường là người ta dùng đồng Đô la Mỷ hay đồng Euro ,vì những loại tiền nầy ít khi bị mất giá do suy thoái nền kinh tế của những nước phát hành. Mặt khác, nếu sử dụng những loại tiền không ổn định , người mua , người bán , sẽ có những khoản lời hay khoản lỗ "trời cho" do đồng tiền bị trượt giá trên thi trường . Kinh nghiệm cho thấy nếu đồng tiền bị trợt giá , bên bán sẽ chấp nhân bồi thường Hợp Đồng thay vì giao hàng đúng theo Hợp Đồng để lỗ dài dài hay họ tìm cách " xù " Hợp đồng .

Giá FOB la chũ viét tắt cùa Free on board Price tức là giá giao hàng tạo boog tầu của người mua . Trong ngoại thương còn có những giá khác như F A S ( Free along side Price ) tức giá giao hàng dọc mạn tầu )

ĐIỀU 7 + 8 + 9 :

Trong việc thanh toán ( Điều 7 ) , thường người mua đòi hỏi người bán phải giao cho mình đủ các giấy tờ chứng thực sự hợp pháp của hàng hóa mới trả tiền . Bên cạnh người mua, họ còn có một tư vấn kinh tế là Ngân Hàng có nhiều kinh nghiệm trong thanh toán Quốc Tế. Họ có nhiều chuyên viên để thẩm định tính chất trung thực của các loai giấy tờ bên bán giao cho bên mua trước khi chi tiền.cho họ .Để chắc chắn hàng hoá của mình mua là thứ "xịn " theo ( Điều 8 ) bên mua có quyền coi lại , kiểm tra hàng trước khi bên bán bốc vác lên tầu chở sang cho mình . Đây là một thủ thuật để bên mua " hù " bên bán để họ không dám làm " ẩu ", giao hàng "dỏm", hàng "nhái " hay hàng "trộn " vì bên mua sẽ kiểm tra bằng cách chọn ngẫu nhiên theo xác xuất .
Trong quá trình mua bán hàng quốc tế ,( theo điều 8 ), có một nhân vật thứ ba trách nhiệm cũng nặng nề không kém bên mua và bán , đó là người chủ tầu vận chuyển hàng hoá bằng đường biển cho hai bên mua bán Khi tầu đã ra khơi , giá trị tài sản của hai bên mua và bán đặt gánh nặng trên vai người chủ tầu , nếu có những rủi ro bất trắc dọc đường như tầu chìm, hàng hoá bị hư hỏng do thời tiết , bị cướp biển , tầu trôi dạt , mất hàng, giao hàng trễ thì người chủ tầu lãnh đủ bồi thường cho bên mua lẫn bên bán một số tiền lớn . Để thoát hiểm theo ( Điều 9 ) trong những trường hợp nầy , người chủ tầu có thể "bán cái "trách nhiệm cho một nhân vật thứ 4 đó là CôngTy Bảo Hiểm Hàng Hải ( Insurane .). Bằng những Hợp Đồng Bảo Hiểm Nghiệp Vụ nầy , chủ tầu và Nhà Bảo Hiểm quy định rõ ràng những trường hợp sự cố xảy ra từng chi tiết , và đồng thuận ai phải bồi thường , bồi thường theo múc độ bao nhiêu. Dĩ nhiên là chủ tầu cũng phải đóng một số tiền phí bảo hiểm ( Premium ) không phải nhỏ  .

ĐIỀU 10 + 11 + 12 ;

Nếu giữa bộ "đôi" người Mua , ngưòi Bán,có những chuyện vi phạm Hợp Đồng mà không thương lượng được thì phải kiện cáo lẫn nhau ở những cơ quan tài phán Quốc Tế Thương Mại , hay trọng Tài Kinh Tế theo ( Điều 10 ) ,Việc xét xử được tuyên bằng một bản án trừng phạt tài chánh có tính chung thẩm mà hai bên phải chấp hành nếu còn muốn làm ăn trên thương trường Quốc Tế .Nếu không , Công Ty "phạm nhân " sẽ bị trừng phạt kinh tế bắng " cấm vận " hay , " tẩy chay hàng hóa " ," tăng ngạch thuế quan " khi sản phẩm lưu thông ngoài thị trường vào các nước khác . Nhưng việc quan trọng nhất là mất uy tín nhản hiệu trên thế giới khiến không ai còn dám tin cậy làm ăn với mình nữa.
Trong những đièu kiện giao hàng,theo (Điều 11 ) hai bên ghi rõ ràng thời gian bốc xếp hàng lên xuống vì thời gian lưu bãi, lưu kho rất quan trọng. Nó chiếm một chi phí lớn về thuê mặt bằng, bến bãi, neo tầu chờ đợi v.. v..
Những chi phí khác như vật tư chèn, chắn hàng hoá để hàng hóa ở trạng thái tịnh cũng rất tốn kém , hay lều ,vải bạt ny long để che nắng che mưa cho hàng hoá trong khi chờ bốc vác vào kho cũng cộng thêm rất nhiều vào chi phí bao bì, đóng gói làm tăng giá thành .Việc kiểm các kiện hàng khi xuống bãi cũng rất tốn kém chi phí cho người mua trong khi đó chi phí thuế tại cảng giao hàng do người bán gánh chịu.
Theo ( Điều 12 ) hai bên sẽ thống nhất khi có tranh chấp thương maị thì lấy luật pháp một nước làm cơ sở để tranh chấp sau nầy ( Singapore )

ĐIỀU 13 +14 +15 :

Trong điều ( 13 ) Để tháo gỡ cho những cộng ty làm ăn chân chính mà chẳng may gặp những "nạn kiếp " ngoài ý muốn , những sự kiện khách quan, khiến họ không thực hiện được Hợp Đồng mà không có trách nhiệm bồi thường gì cho bên đối tác , là những trường hợp bất khả kháng như : chiến tranh , thiên tai, địch hoạ , động đất , sóng thần , lũ lụt , hỏa hoạn , cấm vận v..v.. .theo những quy định của Phòng Thương Mại Quốc Tế ban hành . Trong điều (14 ) bên bán sau khi tập kết hàng hoá về kho của mình để sẵn sàng giao hàng . Để cho yên tâm hơn về chất lượng, số lượng , tình trạng bao bì cuả hàng hóa mình họ mời Vinacontrol Việt Nam đến kiểm định , giám sát cấp giấy chứng nhận coi như "lá buà " hộ mệnh cho hàng hoá của mình nếu sau nầy có xảy ra tranh chấp , dĩ nhiên là bên bán phải chịu phí tổn .Trong điều ( 15 ) hai bên quy định nếu có tranh chấp thì phải giải thích những ngôn ngữ trong Hợp Đồng theo những phạm trù. quy phạm của bản hướng dẫn năm 1990 cuả Phòng Thương Mại Quốc Tế Nếu Hợp Đồng lập thành nhiều trang thi mỗi trang đều có dấu đóng giáp lai của hai bên mới có giá trị ( đề phòng bị đổi ruột các tờ bên trong ).


HUY THANH . 

Thứ Ba, 9 tháng 7, 2013

TRUYỆN DỊCH MỘT TAI NẠN CHÌM TẦU

TRUYỆN DỊCH VĂN HỌC QUỐC TẾ :

MỘT TAI NẠN CHÌM TẦU

NGUYÊN TÁC TIẾNG PHÁP :  

LES GRANDS COEURS

( NHỮNG TRÁI TIM VĨ ĐẠI)

TÁC GIẢ : EDOMONDO DE AMICIS

NGƯỜI DỊCH : HUY THANH 


 photo HT-EMT3b_zps953ce740.jpg

1-LỜI NGƯỜI DỊCH :

 Cuốn truyện dài  "Les grands coeurs"  là quyển sách của nhà văn Ý Edomondo de Amicis , nguyên bản tiếng Ý là Cuore, bản dịch tiếng Anh là Heart a Children 's  gồm nhiều truyện ngắn góp lại . Đây là quyển sách viết về sự hy sinh cao thương của những con người, nhân vật trong cốt truyện  có tính giáo dục rất đặc sắc . Quyển sách cũng có thể coi là kim chỉ nam cho những bậc cha mẹ lấy đó để dạy dỗ cho con cháu mình. Những truyện ngắn trong cuốn sách nầy đều viết về những tấm lòng cao cả, hy sinh, giúp đỡ, lòng thương yêu nhân loại với nhau như : cha mẹ, anh chị em, bạn bè, thầy cô giáo, tổ quốc quê hương.

Một ngày thứ bảy cuối tuần, nhân chút rảnh rang để dọn dẹp ,sắp xếp lại tủ sách cá nhân như một thư viện nhỏ của mình, tôi bất chợt thấy lại cuốn Les Grands Coeurs  nguyên bản tiếng Pháp nằm cuối tủ ,những trang giấy lâu năm đã ngã mầu uá vàng. Cuốn sách nầy là món quà ba tôi đã mua tặng cho tôi năm  vừa  đậu Tú Tài toàn phần ( Tốt nghiệp Trung Học Phổ Thông bây giờ ), ý của ông là muốn cho tôi trau dồi thêm tiếng Pháp ,đồng thời trau dồi thêm đạo đức làm người như nhân vật trong những cốt truyện E. D. AMICIS đã viết ( ba tôi là một giáo sư dạy tiếng Pháp .

Cuốn sách nầy cũng được rất nhiều người dịch ra tiếng Việt Nam như dich gia Hà Mai Anh dịch dưới tựa đề  " TÂM HỒN CAO THƯỢNG  ", nhà văn Hoàng Thiếu Sơn dịch với tựa đề  " NHỮNG TẤM LÒNG CAO CẢ ", còn tôi thì dịch sát nghĩa đen tiếng Pháp hơn,  với tựa đề  là " NHỮNG TRÁI TIM VĨ ĐẠI ".
Nhưng, dù dịch với bất cứ cái tựa nào, dịch bằng bất cứ lối hành văn nào , tất cả mong muốn của người dịch chỉ có mục đích là chuyển tải tới độc giả những nội dung cao đẹp của tình người, tình nước, trong  từng cốt truyện như ngạn ngữ Tây Phương đã nói " Con đường nào cũng dẫn đến La Mã "
   Nếu bản dịch có những sai sót, khiêm khuyết mong các dịch giả đàn anh lượng thứ và chân thành chỉ giáo . Rất trân trọng

2- MỘT TAI NẠN CHÌM TẦU

BẢN DỊCH TỪ NGUYÊN TÁC 
TIẾNG PHÁP  : HUY THANH


Vài năm trước đây  trong một buổi sáng tháng chạp, một chiếc tàu buồm rời cảng Livepool để sang đảo Malta., trên tầu có sáu mươi thuỷ thủ và hơn hai trăm hành khách. Thuyền trưởng , thuỷ thủ đoàn phần lớn là người nước Anh .Trong số hành khách cũng có nhiều người Ý là một số thương gia, linh mục và nhạc sĩ. Ở đầu tàu, trong số hành khách vé hạng chót "cá kèo" có một cậu bé người Ý khoảng mười hai tuổi, cậu không cao, nhưng trông rất khoẻ mạnh .Nhìn nét mặt nghiêm trang của cậu, người ta có thể đoán cậu là người ở đảo Sicile.
Cậu ngồi một mình trên những đống  " hằm bà lằn " tạp nhạp trên tầu, tay tựa vào một cái vali đựng quần áo cũ nhầu nát, dơ bẩn. Da cậu sậm mầu, tóc đen, quần rách vá nhiều chỗ .Cậu nhìn ra bể khơi  trầm ngâm với đôi mắt u buồn, cái buồn u ẩn của những người khổ sở vì thảm cảnh gia đình.
Tàu ra khơi được một lúc thì một  người thuỷ thủ Ý già , dắt một đứa bé gái nhỏ ra mũi tàu, lại gần chỗ cậu bé, ông ta cười nói to át tiếng sóng biển ào ào :
-Cháu Mario ơi ! chú mang đến cho cháu một người bạn đường đây nầy

Rồi người thuỷ thủ quày quả quay đi để làm nhiệm vụ khác bỏ cô bé đứng bỡ ngỡ trước người bạn mới .
Mario chỉ cho cô bé ngồi xuống chỗ đống dây thừng trên sàn tầu :
-Em định đi đến chỗ nào vậy ?.
 Cô bé trả lời hồn nhiên như quen thuộc từ lâu :
-Em đi về đảo Malta để thăm ba mẹ, em tên là Giulietta Phagiani.
Mario không hỏi gì nữa với người bạn mới . Một lúc sau cậu lấy bánh mì ,trái vải  khô ở valy ra. Cô bé cũng lấy hộp bánh biscuit ra, hai bên cùng chia nhau ăn rất vui vẻ .Người thủy thủ già lại đi ngang qua , thấy hai đứa trẻ cười nói vui vẻ , ông nói :
-Chà chà, vui qua nhỉ  ! Sắp được nhảy muá bây giờ

Gió bỗng thổi càng lúc càng mạnh hơn, con tàu lắc lư như kẻ say rượu trên đại dương. Nhưng hai anh em chưa từng biết say sóng là gì cả nên không thèm để ý tới.Cô bé cười hồn nhiên.Tuổi cô chắc cũng xấp xỉ với Mario nhưng có vẻ cao lớn hơn , mập hơn nặng hơn một chút. Da  cô cũng mầu sạm, một khăn mousoir đỏ quấn ngang tóc, hai tai đeo chiếc vòng bạc đong đưa lắc lư theo con tầu .
Hai đứa bé bình thản tâm sự về gia đình mình  .Cậu bé mồ côi cha mẹ. Cha cậu làm công nhân, vừa mới chết  ở Livepool được mười ngày. Ông lãnh sự Ý thấy cậu bơ vơ nên giúp đỡ , cho cậu về quê ở Palermô để tìm mấy người họ hàng nhờ giúp đỡ .
Cô bé thì năm trước có người cô quý tộc giầu có  đưa cô sang Luân Đôn, nhận làm con nuôi để bớt gánh nặng gia đình của cha mẹ ruột nhưng sau đó người cô lại bị tai nạn xe chết không để lại di chúc cho cô số tiền nào. Ông Lãnh sự Ý thấy hòan cảnh thương tâm cũng giúp đỡ để cô về nước. Ông bèn gởi hai đứa trẻ cho người thủy thủ già người Ý chăm sóc.
Cô bé tâm sự :
- Thế là em trở về, nghèo vẫn hoàn nghèo, gia đình ai cũng nghĩ là khi em về sẽ có số tiền lớn mà bà cô cho  Nhưng cần gì, miễn là ba mẹ còn thương yêu em , còn thấy em về được là mừng lắm rồi ! Các em chắc cũng nhớ em lắm. Em là chị lớn của bốn đứa em còn nhỏ  anh a.
Cô quay về phía cậu bé hỏi :
-Thế anh cũng về nhờ bà con giúp đỡ gì chứ ?
-Anh cũng mong thế nhưng không biết có ai chịu  không ?
-Thế những người bà con không thương anh hả ?
-Anh cũng không biết nữa .
Cô bé ngừng giây lâu, nói chậm rãi :
- Noel này em mười hai tuổi anh à .

Suốt ngày hôm đó,  hai anh em ngồi cạnh nói chuyện tâm sự, khi không còn gì để nói ,cô bé đan cho Mario một đôi vớ mới. Cậu bé thì ngồi trầm tư nhìn ra mặt biển ,sóng mỗi lúc một to dần
Thấm thoát mà trời đã xế chiều ,trong lúc Mario đang đứng tựa lan can tầu nhìn biển động thì một con sóng to hung dữ phủ chụp lên mạn tầu ,vỗ nước mặn vào mắt cậu cay xé. Con tầu lắc lư ,cậu mất thăng bằng té đập đầu vào ghế ngồi máu chảy ròng ròng.
Cô bé vội chạy đến, cô tháo khăn mousoir trên đầu chậm máu, băng vết thương cho Mario. Một giọt máu rơi xuống làm hoen chiếc áo vàng của cô đang mặc.Trong đôi mắt cay sè vi nước biển , Mario cũng kịp nhận ra đôi mắt Giulietta đang đẫm lệ như chia sẻ nỗi đau đớn cùng cậu .

Đến tối, Mario và Giulietta vừa xuống phòng ngủ thì cơn bão nổi lên, gió mạnh làm gãy cột buồm cuốn ba chiếc xuồng cứu nạn  treo ở hông tàu , bốn con bò trên boong rơi xuống đáy biển .Con tầu càng lúc càng lắc dữ dội.
Boong tầu lúc nầy rất hỗn lọan không thể diễn  tả được ,tiếng kêu, tiếng gọi, tiếng cầu nguyện, tiếng khóc nghe rất não lòng . Nửa đêm về sáng ,gió càng mạnh, sóng càng to. Khi hừng sáng thì gió , sóng như điên cuồng gầm thét trên đại dương. .

Sóng lại ào lên boong như muốn nuốt trọn  con tầu , nó quật ngã, cuốn sâu xuồng đáy đại dương tất cả những gì trở ngại trên đường đi. Nóc buồng máy bị tốc lên, nước tràn vào làm tắt ngấm các lò than máy , khói, bụi , tro , than , bay mù mịt, những người đốt lò phải bỏ chạy.
Con tầu chòng chành như chiếc lá khô giữa dòng cuồng phong, hứng chịu ngàn con sóng cao ập xuống như thác đổ.Ông thuyền trưởng vội hét to ra lệnh, tiếng ông chìm hẳn trong tiếng hỗn lọan của đại dương và con người  :
- Mau  bơm nước ra, nhanh lên
Ông vừa đứt lời thì một cơn gió mạnh làm đứt hết dây buồm, ,bật tung các cửa buồng, lập tức nước biển ào ào tràn vào tầu .
Hành khách đều xanh mặt, gào khóc, nhiều phụ nữ ngất xỉu trên sàn tầu.  Người thuyền trưởng tiếp tục hét lên trong tuyệt vọng :
-Thả ngay hết xuồng cứu nạn còn lại xuống biển
Năm người thuỷ thủ bèn ngồi vào xuồng để có trọng lực rơi xuống mặt nước trước sức gió dữ dội .Khi xuồng vừa chạm mặt biển thì một con sóng ào tới nhấn chìm lỉm ! Hai thuỷ thủ chết đuối, ba người còn lại bơi giỏi, gối lên sóng mới níu được dây neo leo lên tàu.

Nước đã tràn vào gần đầy hầm tầu, .Một thảm kịch thương tâm xảy ra trên boong tàu.Những người mẹ khóc tuyệt vọng,  ôm chặt con vào lòng trước cái chết trước mắt, bạn bè hôn nhau từ biệt, nhiều người nấp vào trong buồng để khỏi nhìn thấy tử thần đang lảng vảng quanh họ. " Đòang " một tiếng nổ vang lên,một hành khách tự sát bằng súng lục ngã lăn xuống cầu thang.Một số đông người nữa chen chúc vào nhau cầu nguyện .
Tiếng kêu khóc, cầu nguyện, gọi nhau ơi ới  trong gió gào nghe rất ghê rợn.
Mario và Giulietta hai đứa đều ôm hai cái cột buồm gẫy, hai trẻ nhìn nhau cũng rất tuyệt vọng
Sau đó, thì sóng đã dịu nhưng con tàu ngập nước cứ chìm dần , chìm dần ,chỉ vài phút nữa là nó chìm sâu dưới  đáy biển .Ông thuyền trưởng lại ra lệnh .
-Thả xuồng cứu nạn cuối cùng xuống .
Xuồng cứu nạn cuối cùng với mười bốn thủy thủ và ba hành khách lại được thả xuống . Người thuyền trưởng vẫn đứng ở trên boong tầu đang ngập nước

Đám thủy thủ dùng hai tay làm loa kêu gọi :
-Thuyền trưởng ơi, xuống ngay với chúng tôi
Người thuyền trưởng lắc đầu :
-Không, ta phải chết trên cương vị thuyền trưởng của mình với tầu
Nhóm thuỷ thủ lại la to :
-Xin thuyền trưởng xuống ngay, may ra gặp tàu khác đến cứu thì ta thoát nạn.
Người thuyền trưởng lắc đầu , giọng đầy xúc động
-Ta ở lại, anh em đi bình an, cầu Chúa ban phước cho anh em

Nhóm thuỷ thủ lại nhìn lên đám hành khách trên tàu đang nhốn nháo . Một người bắc loa tay gọi to:
-Còn một chỗ cho một người đàn bà, ai xuống nào?
Một người đàn bà mặt tái xanh bước ra, người thuyền trưởng dìu bà bước qua lan can tầu ,nhưng khi nhìn thấy xuồng cứu nạn còn ở xa mép tầu quá, sóng nước đang chòng chành xuồng, bà không đủ cam đảm nhảy xuống nên sợ quá ngất xỉu lại trên boong tầu .
Thấy không có ai ra nữa, đám thuỷ thủ vội la to :
-Một đứa trẻ vậy, có đứa trẻ nào không ?

Tiếng kêu chưa dứt, Mariô và Giulietta đều nhảy bổ ra mạn tàu như hai con thú dữ, chúng nó  tranh nhau kêu  :
- Tôi nè
- Tôi nè
Đám thuỷ thủ lại nói vói lên  :
-Đứa nào nhẹ, lùn thấp xuống thôi vì thuyền đã nặng lắm rồi.

Nghe thế, cô bé vừa kinh ngạc,vừa thất vọng ,sững người nhìn Mario bằng đôi mắt của kẻ hấp hối, tuyệt vọng bởi vì cô vừa cao , vừa to người hơn Mario rất nhiều .
Mario  nhìn cô bé, cậu chợt trông thấy giọt máu đỏ ở vạt áo cô còn đó, nhớ lại cái cử chỉ trìu mến băng bó vết thương cho mình hôm qua và đôi mắt ươn ướt lệ của Guilietta nhìn mình như chia sẻ sự đau đớn.  Một ý định bất chợt thoảng qua như luồng chớp, từ một nhịp đập thôi thúc của trái tim lớn nhân hậu, cậu trả lời to  :
-Cô này nhẹ , thấp hơn tôi, cho cô xuống
Rồi quay sang cô bé, cậu nói nhanh như một lời trăn trối :
- Em Giulietta ơi,ba mẹ em , các em của em đang chờ em ở quê nhà ,còn anh thì chỉ có một mình không còn ai cả . Anh nhường chỗ cho em sống , hãy xuống nhanh đi .
Đám thuỷ thủ dưới thuyền lại kêu lên  :
-Lẹ lên ! Ném nó xuống đây !
Mario liền ôm ngang hông Giulietta lấy hết sức mình liệng cô xuống.
Cô bé chỉ kịp kêu lên một tiếng thì rơi ngay xuống biển. Một người thuỷ thủ nhanh tay kéo được cô mang lên xuồng, họ lập tức bơi đi thật nhanh .

Mario đứng trên mạn tàu nhìn chiếc xuồng cứu nạn càng ngày càng bơi xa con tầu đang chìm để tránh vùng nước xoáy. Mái tóc cậu bay phất phới trên vầng  trán cao ngạo, cậu sẵn sàng đón một cái chết với tất cả sự bình thản từ một lời kêu gọi của trái tim,  Dáng cậu đứng đường bệ, uy nghiêm như một người lớn , mà có lẽ còn hơn thế nữa  .Cậu nghe thoáng như trong hơi gíó lời vĩnh biệt của Giulietta gởi tới mình .
Con thuyền cứu nạn xa dần, Giulietta ngoảnh lại nhìn hình ảnh Mario đang cùng chiếc tầu chìm dần. Cô khóc thổn thức gào lên thay một lời chào vĩnh biệt :
- Vĩnh biệt Mario ơi, vĩnh biệt anh
Chợt nhiên , dường như Giulietta nghe giọng Mario đáp lại lời cô trong gió :
-Vĩnh biệt em  ,Giulietta, vĩnh biệt em , em ở lại bình an

Chiếc xuồng đã đi xa khuất trong ngàn cơn sóng dữ. Giulietta không dám nhìn lại những giây phút cuối cùng  nên úp mặt vào lòng hai bàn tay thổn thức, nghẹn ngào. Khi cô bé ngẩng đầu lên, thì con tàu đã biến mất chìm dưới đáy đại dương , không để lại dấu vết gì trên mặt trùng dương sóng nước vô tình .

3-LỜI KẾT  .

Thú thật, khi dịch truyện ngắn này, có những chỗ tôi phải ngừng gõ máy để tránh những xúc động bất chợt từ đoạn cuối , nhất là đoạn từ lúc hai đứa trẻ tranh nhau con đường sống theo bản ngã tự nhiên sinh tồn, khi biết rằng chỉ còn một chỗ duy nhất để thoát nạn . Rồi sau đó, Mario chợt thấy vết máu trên áo người bạn gái Giuietta  đã băng bó cho mình đêm hôm trước .Chợt một tiếng nói xa xôi ,cao cả nào vọng lên từ trái tim  thôi thúc, Mario đã chấp nhận hy sinh , vì thấy giữa hai cảnh đời Guilietta là người đáng sống hơn mình. Phải chăng tình thương sẽ được đáp lại bằng tình thương như đúng lời Chúa phán dạy ? .

Những cảm nghĩ đó đầy dẫy tính nhân văn, nghĩa luân lý trong suốt trong gần tám mươi truyện ngắn của cuốn sách . Đó cũng là câu trả lời , khẳng định  giá trị văn học của nó , giúp nó vượt thời gian qua nhiều thế kỷ mà vẫn có địạ vị cao trong nền văn học quốc tế.

Mặt khác, khi dịch đến cảnh hỗn loạn của chiếc tầu đang chìm, cảnh mẹ con, vợ chồng, bạn bè vĩnh biệt nhau lòng tôi lại se thắt nhớ lại thực sự trong cuộc đời cũng có những thảm cảnh như  vụ chìm  tầu du lịch" Dìn Ký ",  vụ chìm tầu du lịch " Titanic ", phải chăng có những lúc đời trong truyện và truyện cũng có trong đời ?

HUY THANH

Thứ Bảy, 6 tháng 7, 2013

THƠ : ĐỘC THOẠI CUỐI HOÀNG HÔN

THƠ

ĐỘC THOẠI 
CUỐI HOÀNG HÔN


 photo 1Cw1r-14A-1.gif
HUY THANH

1-

một ly cà phê đắng
trong quán bar xóm Tày
nửa bài thơ im ắng 
gàn ương lời dở ,hay 

sương mờ sau kẽ lá
em mờ sau bóng mây
mưa bay mờ tơi tả
ta mờ khói thuốc cay

ta hứng buồn giọt đọng
uống cho hết đêm ngày
tóc em mù gíó lộng
rưng sợi buồn kín vai

chim bay về bóng núi
ta lớn tiếng kêu bầy
chiếc lá vàng lủi thủi
nhớ tuổi nào liêu trai 

mang nỗi buồn đảo quốc
ngầy ngật ở chốn nầy
con đường mòn xa khuất
dài còn một ngón tay

trùng dương lời sóng gọi
cùng ngư nữ kêu bầy
sóng rưng lời còm cỏi
rừng rưng lời lá phai

đoá hoa hồng chết lặng
gục đầu giữa mưa bay
giọt cà phê đăng đắng
nhỏ giọt sầu rách vai

thêm một ly rượu đắng
cho quên thế kỷ nầy
chiều quán bar tĩnh lặng
ta say khước bên quầy

2-

em xa ta thế kỷ nầy
ánh trăng hồng thuỷ lưu đày gót son
cơn mê sóng động oan hồn
hồng hoang cũng thấy vùi chôn cát lầm 
ai làm lỡ cuộc trăm năm
mà đi ngậm ngải tìm trầm nhớ nhau
bao giờ dứt tiếng ly tao
xin mầu nguyệt bạch trôi vào áo quan
ta cười biệt khúc ly tan
cơn mưa huyền thoại hoang mang đất trời

(Singapore 22/12/2011 )

HUY THANH

Thứ Ba, 2 tháng 7, 2013

THAM LUẬN :TẢN MẠN TỪ BÀI HÁT TRẢ LẠI EM YÊU KHUNG TRỜI ĐẠI HỌC .


THAM LUẬN : 

TẢN MẠN TỪ BÀI HÁT 

TRẢ LẠI EM YÊU
KHUNG TRỜI ĐẠI HỌC  ( 1 )

Lời bạt ngắn : Viết với tất cả tấm lòng tri ân các cô , các thầy đã dẫn dắt những thế hệ chúng em cỡi sóng bơi qua những đại dương kiến thức tuyệt vời . 

 photo HT-EMT-5.jpg


HUY THANH 


1-NÓI VỚI NHỮNG NGƯỜI CÙNG TUỔI :

Mới đó mà 38 năm trôi qua kể từ khi tôi rời mái trường Đại Học Luật Khoa cũ, nơi đó có biết bao kỷ niệm buồn vui thời còn sinh viên với những tình yêu , lý tưởng và mộng ước không thành. Ở tuổi đó tình yêu như một trái chín ngọt đầu mùa ,những hoài bão lớn dậy như một mầm cây đang nhú . Những sáng, những trưa, những chiều rời giảng đường lang thang trên con đường Duy Tân cây dài bóng mát .Ngồi uống cà phê ở bờ hồ con Rùa , nghe tiếng chuông nhà Thờ Đức Bà đồng vọng từng hồi sau hồi kinh tan lễ . Những cái lắng dịu êm đềm, mông mênh dường như còn quanh quẩn đâu đây trong ký ức , gợi nhớ, gợi thương , tưởng chừng như xa vắng mà gân gũi , nhẹ nhàng nhưng nặng trĩu một nỗi nhớ vô bờ .
Bước vào ngưỡng cửa Đại Học với một tâm hồn không còn bé thơ , tôi đã chọn ngành học Luật với những hoài bão tương lai thật lớn, cho xã hội bớt những niềm đau , cho những bất công không còn trên một mảnh đất có quá nhiều chủ thuyết mơ hồ, đầy đạn bom  cày xới này nữa .

Sau khi thi đậu bằng Tú Tài 2 năm 18 tuổi , tuổi trẻ chúng tôi bắt đầu suy nghĩ về tương lai của mình giữa nửa đất nước mà mỗi ngày luôn nghe tiếng bom đạn ngày đêm , những bản tin chiến sự , những phân ưu ,ai điếu , chia buồn đăng đầy dẫy trên nhiều trang nhật báo hằng ngày . Đi học ngày nào cũng gặp nhiều đám tang trên đường phố , tre già khóc măng , vợ trẻ khóc chồng , con thơ khóc cha , những người góa phụ còn ngây thơ vấn vội khăn tang trên đầu khi chưa lau khô dòng lệ .
Thời đó.học sinh, sinh viên chúng tôi chỉ có một con đường duy nhất để không tham dự cuộc chiến là học , phải học thật giỏi, không được thi rớt, không được lưu ban năm học để được hoãn dịch vì lý do học vấn . Vì chỉ cần thi hỏng . ở lại lớp một năm là phải vào lính , cầm súng , coi như đánh đổi tương lai với số phận riêng của mình trong số phận chung của đất nước mà theo nhạc sĩ Trịnh công Sơn là " Một nghìn năm đô hộ giặc Tầu, một trăm năm nô lệ giặc Tây , hai mươi năm nội chiến từng ngày , gia tài của mẹ để lại cho con,gia tài của mẹ là nước Việt buồn ".
Theo Chương Trình dạy Đại học lúc đó , bậc Đại Học gồm các trường phải thi tuyển vào là Y Khoa , Dược Khoa , Kỹ sư Công Chánh , Đại Học Sư Phạm, Quốc Gia Sư Phạm , Quốc Gia Hành Chánh , Đại Học Kiến Trúc , Đại Học Nông Lâm Súc . Các trường chỉ ghi danh học là Văn Khoa , Luật Khoa và một số trường Đại Học tư như Vạn Hanh, Minh Đức. Tri Hành ..

Vì chỉ ghi danh vào học nên số sinh viên Trường Luật quá đông ( năm thứ nhất lên đến khoảng 38.000 sinh viên ) , ngoài những sinh viên thuần túy đi học , còn có các sinh viên là công chức, quân nhân. các tầng lớp buôn bán , giáo chức, trí thức xã hội khác đủ mọi thành phần cũng ghi danh vào học để mong có thêm bằng cấp hầu đổi đời trong thăng quan tiến chức . Vì số sinh viên quá đông như vậy nên nhà trường chia thành hai ban : Ban A và Ban B cho dễ quản lý và mượn cả rạp Thống Nhất để làm giảng đường .

Để giúp các sinh viên năm thứ nhất là quân nhân, công chức , thành phần không thể đến trường học trực tiếp mà chỉ mua cours , sách giáo khoa về nhà tự học theo sát được bài giảng, tiến độ dạy của thầy trong giảng đường , năm 1973 Ban Đại Diện Sinh Viên lúc đó có ấn hành một Nguyệt San Bản Tin Học Tập nội dung ghi nhận ,cập nhật các bài day của các Giáo Sư để cho Sinh Viên tiện việc theo dõi học hành khi ở nhà . Ngoài ra các sinh viên đàn anh còn viết những bài chia sẻ ,bổ sung kiến thức, kinh nghiệm của mình trong học tập và thi cử cho các thế hệ sinh viên đàn em lớp dưới
Nguyệt San Bản Tin Học Tập đó Ban Đại Diện Sinh Viên mời tôi làm Chủ Bút ,anh Nguyễn Tấn Nam làm chủ nhiệm, cô Huỳnh Lê làm Tổng Thư Ký .





A -Ảnh chụp Đại Học Luật Khoa năm 1973 khi còn là ngôi trường cũ , Huy Thanh ngồi hàng trên, người thư 5 từ bên trái đếm sang , mặc áo sậm .




B - LS Huy Thanh 1975 (mặc phẩm phục luật sư chuẩn bị ra biện hộ trước tòa )



C- Ảnh thẻ Sinh Viên cũ năm thứ nhất của cựu S.V Luật Vũ thị Thu Yến tức Blogger Én Mùa Thu ( Thu Yến Vũ ) năm 1975 gởi theo lời đề nghị giúp đỡ của Huy Thanh để đăng làm tư liệu viết bài nầy .





D- Video Clip bản nhạc " Trả lại em yêu " của nhạc sĩ Phạm Duy viết về trường Luật do ca sĩ Elvis Phương trình bày .

Trả lại em yêu khung trời đại học / Con đường Duy Tân cây dài bóng mát / Buổi chiều khuôn viên mây trời xanh ngát / Vết chân trên đường vẫn chưa phai nhòa ./ Trả lại em yêu khung trời mùa hạ / Ngọn đèn hiu hiu nỗi lòng cư xá / Vài giọt mưa sa hôn mềm trên má /Tóc em thơm nồng dáng em hiền hòa ./Anh sẽ ra đi về miền cát nóng /Nơi có quê hương mịt mù thuốc súng /Anh sẽ ra đi về miền mênh mông / Cơn gió cao nguyên từng đêm lạnh lùng ./ Anh sẽ ra đi nặng hành trang đó / Đem dấu chân soi tuổi đời ngây thơ / Đem nỗi thương yêu vào miền thương nhớ / Anh sẽ ra đi chẳng mong ngày về /.Trả lại em yêu con đường học trò / Những ngày thủ đô tưng bừng phố xá /Chủ Nhật uyên ương hẹn hò đây đó / Uống ly chanh đường uống môi em ngọt ./ Trả lại em yêu mối tình vời vợi / Ngôi trường thân yêu bạn bè cũ mới / Đường buồn anh đi bao giờ cho tới / Nỗi đau cao vời nỗi đau còn dài .
 

TRẢ LẠI EM YÊU / TRẢ LẠI EM YÊU .....MÂY TRỜI XANH NGÁT

2- LỊCH SỬ TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT KHOA SÀI GÒN 

Trường Đại Học Luật Khoa Sài Gòn được thành lập từ năm 1955 ( sau Hiệp Định Geneve năm 1954 chia cắt đát nước) nhằm đào tạo các nhà trí thức có kiến thức luật học ở Miền Nam Việt Nam


Trước năm 1933, chính quyền bảo hộ Pháp đã cho thành lập một trường luật lấy tên là Trường Cao Ðẳng Pháp Chính Ðông Dương( Ecole Supérieure D'Aministration Indochinoise) đặt trụ sở tại Hà Nội, nhằm đào tạo một tầng lớp quan lại người bản xứ cho guồng máy cai trị ba nước thuộc địa Ðông Dương là Việt, Miên, Lào. Người Việt thường gọi trường này là Trường Hậu Bổ. Về sau trường được đổi tên thành Trường Cao Ðẳng Luật Học( Ecole Supérieure De Droit).

 Những người đầu tiên tốt nghiệp trường nầy vào năm 1936 , có thể kể: LS. Vũ Văn Hiền, LS. Hoàng Cơ Thụy, LS. Trần Văn Trí , năm 1938 gồm GS. Vũ Văn Mẫu . GS. Vũ Quốc Thúc, năm 1942 gồm GS Nguyễn Cao Hách v..v.

GS. Vũ Văn Mẫu(1955-1957), GS. Vũ Quốc Thúc( 1957-1963), GS. Nguyễn Cao Hách( 1963-1967), GS. Nguyễn Ðộ( 1967-1971), GS. Bùi Tường Chiểu(1971-1973), GS. Vũ Quốc Thông (1973-1975). 
Một số GS tốt nghiệp trong các khóa đầu tiên này có giữ những chức vụ trong chế độ chính trị tại Việt Nam như: LS. Vũ Văn Hiền( Bộ Trưởng Tài Chánh trong nội các Trần Trọng Kim thành lập năm 1945) . LS. Phan Anh, (Bộ Trưởng Thanh Niên chính phủ Trần Trọng Kim và năm 1946 là Bộ Trưởng Quốc Phòng trong chính phủ Hồ Chí Minh ) , LS Dương Ðức Hiền (Bộ Trưởng Thanh Niên trong chính phủ Hồ Chí Minh ).LS Vũ Văn Mẫu ( Bộ Trưởng Ngoại Giao chính phủ Ngô Ðình Diệm, từ chức năm 1963 và được Tổng Thống Dương Văn Minh bổ nhiệm làm Thủ Tướng Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà năm 1975 ) Sau Hiệp Ðịnh Genève năm 1954 chia cắt đất nước, Trường Luật Hà Nội chuyển vào Miền Nam, lấy tên là Luật Khoa Đại Học Đường Sài gòn ( Faculté De Droit) trực thuộc Viện Ðại Học Sài Gòn. Các vị Khoa Trưởng sau đây đã lần lượt phụ trách Trường Luật của chúng ta:

GS. Vũ Văn Mẫu(1955-1957), GS. Vũ Quốc Thúc( 1957-1963), GS. Nguyễn Cao Hách( 1963-1967), GS. Nguyễn Ðộ( 1967-1971), GS. Bùi Tường Chiểu(1971-1973), GS. Vũ Quốc Thông (1973-1975). 

Như vậy GS. Vũ Quốc Thông là vị Khoa Trưởng cuối cùng đến 30-4-1975 .
Ban đầu Trường Luật Saigon dạy theo chương trình Ðại Học Luật Paris của Pháp . Sau này , trường Luật có một số Giáo Sư tốt nghiệp từ Hoa Kỳ về giảng dạy, giáo trình, tài liệu giáo khoa mới được mở rộng thêm theo các trường Luật của Mỹ .

Sự thay đổi chương trình giảng dạy cùng lúc với sự xây dựng lại trường ốc đã làm mất đi hình ảnh ngôi Trường Luật cổ kính ( vốn là một trường Tiểu Học Pháp ) với biết bao kỷ niệm buồn vui của nhiều thế hệ cựu sinh viên Luật khoa chúng tôi . Thay vào đó, một cơ sở trường ốc kiến trúc tân kỳ theo lối Mỹ ngay trên nền xưa đường cũ từ năm 1973 chưa kịp hoàn thành, thì chế độ VNCH sụp đổ, kéo theo bao hoài bão, ước mơ tương lai của những thế hệ sinh viên chúng tôi tan tác như đàn ong vỡ tổ .

3- CƠ CẤU KIẾN TRÚC CƠ SỞ CŨ VÀ MỚI

Trường Đại Học Luật Khoa Sài Gòn cơ sở là một trường Tiểu Học cũ của Pháp để lại, mặt tiền ở số 17 đường Duy Tân cây dài bóng mát . Nhìn chung ngôi trường trông giống một ngôi chùa cổ hơn là một trường Đại Học .

Ngoài văn phòng Khoa Trưởng và phòng hành chánh và thư viện, lúc đầu trường chỉ vỏn vẹn có 4 giảng đường. Giảng đường lớn nhất chứa được khoảng 100 sinh viên. Mãi về sau này , năm 1973 Trường mới được xây lại theo một kiến trúc tân kỳ có hai tầng lầu. Phòng hành chánh được đặt ở tầng trệt ngay phía cổng vào để tiện cho sinh viên ghi danh học. Một cầu thang lớn dẫn lên một phòng lớn lầu trên, dùng làm nơi sinh hoạt hay tổ chức các buổi lễ qui tụ đông đảo sinh viên. Kế liền phòng này vào phía trong là một toà nhà có hai lầu, sắp theo hình vuông vây quanh một sân nhỏ ở giữa.Một hành lang rộng, sinh viên có thể đi lại bốn xung quanh. Các phòng dưới đất dành làm giảng đường. Trên lầu kế cận với phòng sinh hoạt lớn vừa kể là phòng Khoa Trưởng và phòng Phụ Tá Khoa Trưởng ở phía trái. Phòng ốc còn lại dùng làm lớp học. Thư viện được đưa lên lầu 2 và một số phòng ở tầng này được dùng làm lớp học. Một đại giảng đường đã được xây cất vào năm 1975 có sức chứa khoảng 300 sinh viên. Kiến trúc mới nầy có hai cổng , một cổng cũ quay ra đường Duy Tân ( bây giờ là đường Phạm Ngọc Thạch ) và một cổng quay ra đường Phan đình Phùng ( bây giờ là đường Nguyễn đình Chiểu ). Hiện nay trường đã đổi tên là Trường Đại Học Kinh Tế TP HCM .

4- SỐ LƯỢNG SINH VIÊN THEO HỌC 

Về số lượng sinh viên , vào khoảng cuối năm 1960 trở đi, số sinh viên ghi danh tăng nhanh .Năm 1970 đã có trên 15000 sinh viên ghi danh học Năm thứ nhất . Hệ quả là con số sinh viên quá lớn so với khả năng trường ốc, với số phòng ít lại nhỏ hẹp, số giáo sư ít ỏi. Vì thế Trường phải mượn cả rạp Thống Nhất , sau đó lại mượn nhửng giãng đường của các Đại Học khác như Học Viện Quốc Gia Hành Chánh đường Trần Quốc Toản ( nay là 3 tháng 2 ), Trung Tâm Y tế Sinh viền đường Trần Hoàng Quân v..v.để giảng dạy sinh viên Cử Nhân năm thứ 1 . Sau khi quân đội Mỹ rút khỏi Việt Nam năm 1973, cơ sở bán hàng PX của Mỹ có sức chứa khoảng 1000 sinh viên đã có lúc được mượn làm giảng đường cho sinh viên năm thứ 1 và năm thú 2 Hai Ban Cử Nhân.

5- MÔN HỌC VÀ CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY BAN CỬ NHÂN


Trường Ðại Học Luật khoa Sài Gòn được tổ chức và điều hành bởi một Hội Ðồng Khoa với các Giáo Sư là thành viên, bầu ra Khoa Trưởng và Phụ Tá để điều hành công việc. Hội Ðồng Khoa quyết định chính sách, chương trình giảng dạy, tự tuyển Giáo Sư mà không có sự can thiệp của Bộ Quốc Gia Giáo Dục ( thời đó nền Đai Học miền Nam được tự trị ) .  Bên cạnh Hội Ðồng Khoa là một Ban Hành Chánh do một Tổng Thư Ký điều hành.( Ông Nguyễn thượng Kiên Đốc Sự Hành Chánh thời tôi theo học )

Trường Ðại Học Luật khoa Sài Gòn tổ chức theo mô hình của Ðại Học Paris, nhưng có điểm khác là Luật Khoa Sài Gòn chỉ có ba ban: Ban Công Pháp, Ban Tư Pháp và Ban Kinh Tế, còn Luật khoa Paris thêm Ban Pháp Chế Sử với hai môn chính Droit Romain ( Luật La Mã ) và Ansien Droit( Luật Pháp Quốc trước cuộc cách mạng 1789)

5.1 - Ban Công pháp (Droit public ) gồm các môn chính:Luật Hiến Pháp ( Droit constitutional ), luật Hành Chánh ( Droit administrantif) và luật Công Pháp Quốc Tế (Droit international public )

5.2 -Ban tư pháp( Droit privé) gồm các môn chính :
Dân Luật ( Droit civil), Hình luật ( Droit penal) Luật Thương Mại(Droit commercial) và luật Quốc Tế Tư Pháp( Droit international privé)

5.3- Ban kinh tế (Économie Politique) gồm các môn chính :
Phân Tích Kinh Tế ( Analyse economique), Lịch Sử Các Học Thuyết( Histore Des Doctrines) và Ðịa Lý Kinh Tế Phát Triển (Geographie Économique Development).

Sau nầy đến đời tôi học , thì chế độ học cử Nhân ba năm bị bãi bỏ và thay vào đó là phải học 4 năm.
Hai năm đầu là những môn học tổng quát về Kinh Tế , Chánh Trị , qua năm thứ 3 sinh viên phải chọn ban theo sở thích mình học để hành nghề sau nầy là Ban Công Pháp , ban Tư Pháp hay ban Kinh Tế .

A- Ban Công Pháp học chuyên đề về Công Pháp , đậu xong Cử Nhân , bạn có thể thi vào ngạch Thẩm Phán Xử Án hay Công Tố với chức vụ Biện Lý là một sĩ quan cao cấp ngành luật pháp ngang hàng cấp bậc Đại Tá . Bạn cũng có thể làm những chức vụ cao cấp khác như Giám Đốc , Thứ Trưởng, Bộ Trưởng trong guồng máy lãnh đạo đất nước .

B- Ban Tư Pháp học chuyên đề về Tư Pháp , đậu xong Cử Nhân bạn có thể hành nghề Luật Sư sau khi tập sự 3 năm với một Luật Sư nổi tiếng thường là thầy dạy học của mình. Trong thời gian tập sự , bạn cũng có thể được tham dự , tranh tụng trước Tòa với tư cách một Luật Sư Dự Bị .
Năm 1973 , tôi đậu bằng Cử Nhân Luật Ban Tư Pháp, năm 1975 ,tôi đã là một Luật Sư Tập Sự năm thứ hai tại Tòa Thượng Thẩm Sài Gòn .
Song song thời gian đó, tôi cũng ghi danh học tiếp ban Cao Học Luật ( Ban Tiến Sĩ ) tại trường Luật Sai Gòn , đến năn 1975 tôi học dang dở năm Cao Học 2 thì giải phóng .

Mãi đến sau nầy năm 1979 khi sang Pháp , tôi học trường Đại Học Sorbonne Paris và lúc nầy tôi mới bảo vệ thành công Luận Án Tiến Sĩ của mình

Ngoài ra học ngành Tư Pháp , bạn cũng có nhiều cơ hội làm các chức vụ cao cấp trong bộ máy công quyền nhà nước .

C- Ban Kinh Tế
học chuyên đề về Kinh Tế , đậu xong Cử Nhân , bạn có thể hành nghề Chuyên viên Kinh Tế , Cố vấn Kinh Tế , Giáo Sư Đại Học hay giữ các chức vụ quan trọng liên quan đến ngành Tài Chánh , Ngân Hàng của Chánh Phủ .

Tuy là chia làm 3 Ban như vậy , nhưng không bắt buộc bạn phải chọn nghề theo Ban mình học , với bằng Cử Nhân Luật , bạn có thể hành nghề bất cứ lãnh vực nào nếu xã hội cần bạn. Thí dụ ban Công Pháp bạn có thể hành nghề Luật Sư , Ban Tư Pháp bạn có thể vào làm Thẩm Phán , ban Kinh Tế bạn làm Luật Sư nếu thích ..v..v.. 

Câu nói của một giáo sư nổi tiếng trường Luật mà sinh viên nào cũng biết khi đề cập đến ngành Luật học như sau : " Ngành Luật Học không đào tạo ra những chuyên viên mà đào tạo ra những thuyết gia , những người không chuyên một nghề nào cả nhưng có khả năng với tất cả mọi nghề "

Thời tôi theo học Ban Cử Nhân hệ 4 năm tôi nhớ mình đã học các môn sau đây :

Luật Hiến Pháp, Dân Luật , Tài Chánh Công , Luật La Mã , Luật Đối Chiếu ( môn nầy học và làm bài thi bằng tiếng Anh hay tiếng Pháp ). Luật Hành Chánh , Quốc Tế Tư Pháp, Quốc Tế Công Pháp, Dân sự tố tụng , Hình luật, Hình luật đặc biệt , Bang Giao Quốc Tế , Luật Hàng Hải , Luật Hàng Không, Kinh Tế Việt Nam , Phạm tội học, Kinh toán học , Cổ Luật Việt Nam , Luật thuế vụ , Luật Gia Đình , Danh từ Kinh Tế , Luật Thương Mại , Dân sự tố tụng , Hình sự tố tụng , Chánh sách Bang Giao Quốc Tế các nước vùng Đông Nam Á , Luật lao động ...v..v.,

6- BIỂU TƯỢNG PHÁP LÝ VÀ PHẨM PHỤC KHI RA TÒA :


Vì giảng dạy theo Chương trình Luật Pháp Âu Mỹ nên biểu tương ngành Luật Pháp của miền Nam lúc đó là là bức tượng Thần công lý bằng đồng đen ,một tay cầm thanh gươm tương trưng cho hình phạt, một tay cầm cái cân ở thế cân bằng tượng trưng cho công lý .

Khi ra Tòa ,các Thẩm Phán Công tố ( giống như Viện kiểm soát bây giờ ) mặc áo rộng mầu đỏ ( tòa áo đỏ ) , các Thẩm Phàn Xử Án (giống như Chánh Án va Hội Đồng xử Án bây giờ ) mặc áo rộng mầu đen ( Tòa Áo đen ). Còn Luật Sư thì mặc áo rộng mầu đen có viền lông thỏ trắng , trên cổ thắt một dãy nơ trắng tượng trưng cho trắng, đen phải rõ ràng .

Đó là phẩm phục chung Quốc Tế về ngành Tòa Án khi xét xử mà hầu hết các nước trên thế giới thuộc các nước tư bản thường sử dụng ,tôn trọng Nó toát lên cái dáng vẻ uy nghi, đường bệ của Luật Pháp làm con người phải run sợ khi đối diện với Công Lý hơn là mặc những chiếc áo veste , đeo lon hàm , thắt cravatte bình thường như bây giờ .


7 - CHƯƠNG TRÌNH HỌC BAN CAO HỌC:

Khi đậu xong bằng Cử Nhân Luật, bạn có thể ghi danh học Ban Cao Học , chương trình học 2 năm , bạn phải thi lấy bằng Cao Học 1 và Cao Học 2 bằng một tiểu luận mỗi năm . Sau khi đậu hai bằng Cao Học bạn có thể nhờ một vị Giáo Sư đỡ đầu cho bạn viết Luận Án Tiến Sĩ theo đề tài tự chọn. Những vấn đề viết trong Luận án Tiến Sĩ của bạn nằm trong các môn học từ Cử Nhân 1 đến Cử Nhân 4 và hai năm Cao Học mở rộng. Những vấn đề đó bạn phải triển khai thêm nhiều ở phần lý luận, nhận định, đề nghị xây dựng hoặc cải cách hay hơn, tốt hơn trong phạm vi đề tài đã chọn . Bạn phải biện luận như thế nào để thuyết phục được Ban Giám Khảo trình độ là những chuyên viên Cao Cấp Luật Pháp trên Thế Giới , bậc thầy của bạn .
Vì trong Luận Án Tiến Sĩ có phần quan hệ vối Quốc Tế là môn Luật Đối Chiếu ( Droit Comparé) , nên bạn phải viết , nói rành ít nhất một ngoại ngữ là Anh hay Pháp . Bạn có thể trình bày Luận Án bằng cách nói, hay viết bằng tiếng ngoại ngữ Anh hay Pháp đó, và trả lời đối đáp bằng tiếng ngoại ngữ khi Ban Giám Khảo chất vấn bạn ,trong đó có một số Giám Khảo người ngoại quốc từ các Đại Học Mỹ hay Pháp sang giảng dạy .
Học vị Cử Nhân ,Tiến Sĩ Luật tại miền Nam thời đó được công nhận là ngang hàng với các học vị các trường Đại Học Luật Âu Châu và Mỹ Châu vì học ngang tầm cùng một Chương Trình .

Năm 1975, tôi đang theo học Ban Cao Học , đang chuẩn bị viết luận Án Tiến Sĩ thì giải phóng nên sự nghiệp học vấn dang dở nửa chừng . Tôi phải nghỉ học một thời gian để tìm kế sinh nhai từ lao động trí óc như đi dạy học tư , buôn bán quần áo cũ ,bán thuốc tây ở chợ trời đến những nghề lao động chân tay như bốc vác gạo, sửa vá xe đạp ngoài lề phố .
Thậm chí năm 1979  , khi sang Pháp, tha phương cầu thực trên xứ người , tôi còn làm nghề cắt cỏ, chăn bò, làm thợ hồ , hái nho, quét đường để có tiền đi học .Những đêm hiu quạnh , nằm lẻ loi co người để tránh cái rét của từng cơn mưa tuyết, chợt một tiếng khóc trẻ con nửa khuya từ đâu vọng lại , giọng  người mẹ Việt Nam ru hời trong đêm hai câu thơ : 

" Con ơi đừng khóc chi con
"Sống nhờ đất khách chết chôn quê người "

Tiếng ru nghe thật thảm não ,lúc đó tôi thèm khát được trở về quê hương, một giấc mơ mà mãi hơn hai mươi năm sau tôi mới thực hiện được .
Một ngày tháng mười năm 2000 ,chiếc máy bay đáp xuống phi trường , đôi bánh xe của nó đáp xuống phi đạo , trái tim tôi run lên như muốn rạn vỡ thành nhiều mảnh vui buồn  lẫn lộn . Hình như có một xúc động nào len vào tâm hồn tôi khi được về quê cha đất tổ , dù là về với nỗi ngậm ngùi của vị khách lạ mang quốc tịch một nước nào xa lắm từ bên kia đại dương .    


8- THÀNH PHẦN GIÁO SƯ GIẢNG DẠY :

A- Ban Công Pháp: 
GS. Vũ Quiốc Thông (Trưởng Ban) và các Giáo Sư: 
Nguyễn Ðộ, Nguyễn Văn Bông, Lưu văn Bình, Lê Ðình Chân( Người đầu tiên trình luận án Tiến Sĩ tại Việt nam sau ngày độc lập), Tăng Kim Ðông, Trần Thị Hoài Trân, Nguyễn Xuân Lai, Nguyễn Văn Canh, Lê Quý Chi và giáo sư Trần Như Tráng.

B- Ban Tư Pháp: 
Giáo Sư Vũ Văn Mẫu (Trưởng Ban) và các Giáo Sư: 
Bùi Tường Chiểu, Lê Tài Triển, Nguyễn Tấn Thành, Nguyễn Huy Chiểu, Trần Văn Liêm, Nguyễn Quang Quýnh, Nguyễn Văn Thành, Vũ Tâm Tư, Nghiêm Xuân Việt, Vũ Thị Việt Hương, Ðặng Thị Tám và Hà Như Vinh.

C-Ban Kinh Tế:
Giáo Sư Vũ Quốc Thúc,(Thạc Sĩ Kinh Tế là Trưởng Ban ) và các Giáo Sư: 
Nguyễn Cao Hách, Mai Văn Lễ, Phan Tấn Chức,Châu Tiến Khương, Trần Thiên Vọng, Hồ Thới Sang, Nguyễn Hải Bình, Vũ Quốc Thùy, Phạm Văn Thuyết, Nguyễn Văn Ngôn, Tôn Thất Trung Nghĩa, Bùi Tường Huân và Trịnh Ðình Khải.


D- Thành phần Giáo Sư giảng dạy thỉnh giảng :

Ngoài ra nhà trường còn mời thêm một số vị Thẩm Phán, Chánh Án hay Luật Sư đến giảng dạy một số môn chuyên biệt, như :

Cựu Bộ Trưởng Tư Pháp Nguyễn Văn Lương dạy môn Phạm Tội Học, 
Cựu Bộ Trưởng Thông Tin Trần Chánh Thành dạy môn Thông Tin Báo Chí, 
Cựu Thẩm Phán Mai Văn An dạy môn Luật Hàng Hải, 
Cựu Chánh Nhất Toà Thượng Thẩm Sài Gòn Nguyễn Huy Ðẩu dạy môn Dân Sự Tố Tụng ,
Cựu Chánh Án Phòng Toà Thượng Thẩm Sài Gòn Nguyễn Văn Hảo dạy môn Hình Sự Tố Tụng, 
Luật Sư Bùi Huy Sơn dạy môn Dân Sự Tố Tụng. 

Trường cũng mời một số Giáo Sư thuộc học viện Quốc Gia Hành Chánh đến giảng dạy, như :
GS Nguyễn Mạnh Hùng dạy môn Chính Sách Ngoại Giao Các Quốc Gia Ðông Nam Á, 
GS. Tạ Văn Tài dạy môn Phương Pháp Khoa Học Xã Hội, 
GS. Nguyễn Quốc Trị dạy môn Hành Chánh Công Quyền. 

Một số Giáo Sư Pháp, Mỹ cũng được mời đến giảng dạy tại các Ban Cao Học Công Pháp và Tư Pháp.

HẾT

(GHI CHÚ : Bài viết nầy có sử dụng một số tài liệu tham khảo ,trích dẫn từ Bách Khoa Toàn Thư Wikipedia Internet về lịch sử trường Luật Saì Gòn )

(1) Những câu đầu bài hát " TRẢ LẠI EM YÊU " của nhạc sĩ Phạm Duy viết về trường Luật 


HUY THANH

( CỰU SINH VIÊN CAO HỌC 2 BAN TƯ PHÁP
ĐẠI HỌC HỌC LUẬT KHOA SAIGON NIÊN KHÓA 1974- 1975)

Thứ Ba, 25 tháng 6, 2013

THƠ : NẾU EM VỀ

THƠ :

 NẾU EM VỀ 

HUY THANH
 















em về cho lạnh giòng sông ấy
để thấy tình thơ chết ngọt ngào
để thấy ngày chưa qua biển động
khi đời chưa nhạt khúc ca dao

nếu anh còn trẻ sẽ dìu em
nhặt lá thông bay kín ngập thềm
tìm buổi trăng tàn chim sáo nở
tím mầu sim rụng giữa trời đêm

tìm cánh hoa sen, lũ bướm vàng
tìm mầu nắng đọng gió thu sang
tìm hơi gió chướng mùa đông lạnh
se sắt trên đồi núi hỗn mang

anh sẽ tặng em tiếng trống trường
tặng hồi kinh nguyện dứt hồi chuông
tặng đôi guốc nhỏ bàn chân ấy
cho bước đời sau chẳng ngập ngừng.

nhưng tiếc rằng anh chẳng còn xuân
tuổi xanh phơ phất gió lên đường
ánh trăng thơ ấu chìm nguyên thủy
tóc trắng theo đồi núi  dửng dưng

hãy khẩy giùm anh mấy phím tơ
để đàn không trổi khúc ơ thờ
anh ru trên cánh nhung hồ điệp
em ngủ chơi vơi giấc mộng hờ

buồn anh trong mắt sầu vô hạn
trông về thăm thẳm một biên cương
chiều lên ngả bóng mây xa xứ
theo tóc em bay mấy viễn trường

dẫu biết ngày xanh đã úa rêu
đời nhau lạnh buốt tiếng tiêu thiều
mắt ai hoài niệm chiều sơn cước
lẩn khuất trong tim một cánh diều

anh làm lữ khách trước thành xưa
buồn em tư lự dưới trăng mờ
tình xưa mang nỗi niềm châu thổ
giọt đàn khảy vụn khúc tình thơ


HUY THANH